Cách dùng sản phẩm chống oxy hóa để làm trẻ và chữa bệnh

Dùng tiêm trong trường hợp nhiễm độc, dùng uống trong các sản phẩm chống oxy hóa, làm đẹp da.

Coenzym -10
Ở người Coenzym -10 có trong hầu khắp các mô, nhiều ờ tim gan, thận, tụy tạng, trong tim nhiều gấp 10 lần ở nơi khác; có vai trò hoạt hóa quá trình sinh năng lượng ( tổng hợp ATP ), sử dụng oxy của các tế bào, rất cần thiết cho việc sinh tồn, phát triển, hoạt động, đóng vai trò bảo vệ màng lipid tế bào, góp phần ngăn sự oxy hóa của cholesterol xấu ( LDL ). Cơ chế thiếu Coenzym -10 là do dinh dưỡng nghèo nàn, do nghiện rượu, thuốc lá, stress, ốm đau, do dùng thuốc không đúng, do tuồi tác. Dùng phối hợp với các chất chống oxy hóa khác, hỗ trợ trong các bệnh tim mạch.
Việc dùng chất chống GTD để làm trẻ mới dựa vào suy luận lý thuyết, chứ chưa chứng minh lâm sang, GTD nội sinh vốn có ích. Chỉ khi GTD nội sinh và GTD ngoại nhập quá nhiều mà các chất chống oxy hóa nội sinh không đủ khả năng hóa giải mới gây hại. Cho đến nay chưa có cách nào xác định ngưỡng GTD có lợi, ngưỡng GTD có hại, thời điểm hợp lý đưa GTD vào cơ thể. Thường dùng dựa theo nhận xét, ước đoán: Ví dụ khi bị bệnh GTD nội sinh tăng, khi sống trong môi trường ô nhiễm GTD ngoại lai xâm nhập nhiều. Quá trình già hóa kéo dài nhiều năm, tác động bởi nhiều yếu tố, chưa thể theo dõi đánh giá hiệu lực chất chống GTD.
Một số nguyên tắc dùng chất chống oxy hóa
-Cần dùng liều cao mới có hiệu lực: GTD trong cơ thể tăng cao, hàm lượng các chất chống GTD phải cao mới đủ hóa giải. Khi dùng vitamin giúp cho quá trình chuyển hóa thì dùng loại hàm lượng thấp ( như vitamin E, C, betacaroten trong bd: pharmaton, polivitamin ). Khi dùng chống GTD, thì dùng loại có hàm lượng cao ( như vitamin E, C, betacaroten, selen trong bd: vinace ).
-Dùng phối hợp nhiều chất chống oxy hóa: Vì các chất chống oxy hóa thường kết thành màng lưới, kích hoạt làm tăng hiệu lực lẫn nhau.
-Dùng đúng dạng: Dạng của chất chống GTD, chống oxy hóa quyết định hiệu lực, độc tính. Betacaroten có nhiều trong rau xanh, dễ nhạy cảm với oxy, bị mất đi một phần khi nấu nướng, lại là chất tan trong dầu nên khó hấp thu. Trong thuốc thường dùng dưới dạng hỗn dịch. Selen dưới dạng vô cơ dễ bị mất khi nhiệt độ cao, khó kiểm soát, dùng liều thấp không có hiệu lực, dưới dạng hữu cơ trong thực phẩm tốt hơn, ít độc hơn dùng liều cao độc. Trong thuốc thường dùng dạng men khô có hàm lượng selen ổn định.
Không dùng quá liều, quá kéo dài: Dùng quá liều chất chống GTD là có hại.